Bài Dịch Số 52 Thuật Ngữ Và Văn Bản Về Đầu Tư Nước Ngoài (P1)


Trong bài dịch số 52 này, chúng ta sẽ tìm hiểu về một số thuật ngữ và văn bản liên quan đến đầu tư nước ngoài - Một trong những nội dung thường xuất hiện trong các bài thi chứng chỉ TOEICchứng chỉ TOEFL ITP. Việc có chứng chỉ TOEIC hoặc TOEF ITP không chỉ cho thấy khả năng sử dụng tiếnh Anh của cá nhân mà còn tạo ra lợi thế trong việc tham gia vào các hoạt động đầu tư nước ngoài. Các văn bản và tài liệu liên quan đến quá trình đầu tư và hợp tác với các công ty và tổ chức quốc tế thường yêu cầu khả năng tiếng Anh cao để đảm bảo giao tiếp hiệu quả và thành công trong các cuộc đàm phán.

Trong phần đầu của bài dịch này, chúng ta sẽ khám phá về các thuật ngữ và văn bản khác liên quan đến đầu tư nước ngoài. “Các quy định Pháp luật về đầu tư và bảo hộ đầu tư nước ngoài tại VN = Legal documents on foreign investment and protection of investment in VN” dựa trên sách được Nhà xuất Bản Chính Trị Quốc Gia.

Quy Định Về Chế Độ Thẩm Định Các Dự Án Có Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Của Nước Ngoài

(Ban hành kèm Quyết định số 366-HĐBT ngày 7-11-1991 của Hội Đồng Bộ Trưởng)

 

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Chế độ thẩm định các dự án có vốn đầu tư trực tiếp của người nước ngoài quy định việc thẩm định các dự án đầu tư cho cả ba hình thức: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, xí nghiệp hoặc công ty liên doanh (gọi chung là xí nghiệp liên doanh), xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.

 

Điều 2. Nội dung thẩm định dự án bao gồm những điểm chủ yếu sau đây:

 

1. Tư cách pháp nhân, năng lực tài chính của chủ đầu tư nước ngoài và Việt Nam.

 

2. Mức độ phù hợp của mục tiêu dự án với phương hướng phát triển kinh tế xã hội.

 

3. Tính hợp lý của phương án sản phẩm; sự thích hợp về kỹ thuật và công nghệ.

 

4. Mức độ phù hợp của thị trường tiêu thụ sản phẩm với chính sách của Nhà nước.

 

5. Các mức thuế và thời hạn miễn, giảm thuế. Tiền thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển.

 

6. Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án; lợi ích của bên Việt Nam và Nhà nước Việt Nam.

 

7. Khả năng tận dụng các cơ sở hạ tầng sẵn có trong nước để đáp ứng yêu cầu của dự án.

 

8. Tính hợp lý về địa điểm, tuyến công trình, diện tích chiếm mặt đất, mặt nước, mặt biển; việc áp dụng các quy trình quy phạm xây dựng.

 

9. Sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái.

 

Tùy theo loại hình và tính chất của từng dự án mà cụ thể hóa nội dung thẩm định cho phù hợp.

 

Điều 3. Những vấn đề chủ yếu mà các Bộ, Ủy ban nhân nhân tỉnh, thành phố cần xem xét khi thông qua dự án để có kiến nghị cụ thể là:

 

1. Mức độ phù hợp của tiêu chuẩn dự án với phương hướng phát triển của ngành và địa phương; sự cần thiết phải hợp tác đầu tư với người nước ngoài.

 

2. Tư cách pháp nhân và năng lực tài chính, sản xuất kinh doanh của tổ chức kinh tế nước ngoài và tổ chức kinh tế VN.

 

3. Khả năng đáp ứng nhu cầu của dự án về lao động, nguyên liệu, điện, nước, và vận tải etc.

 

4. Định giá tài sản của bên VN góp vào vốn của Xí nghiệp liên doanh.

 

5. Sự phù hợp của địa điểm dự án đối với quy hoạch lãnh thổ của ngành và địa phương. Các kiến nghị mức tiền thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển.

 

CHƯƠNG II

PHÂN CẤP XÉT DUYỆT DỰ ÁN

 

 

Điều 4. Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài, phân cấp xét duyệt như sau:

 

1. Dự án do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định:

 

a) Các dự án không kể mức vốn đầu tư thuộc các ngành kinh tế kỹ thuật sau đây:

 

- Khai thác, chế biến các loại khoáng sản quý, hiếm.

- Viễn thông, truyền thanh, truyền hình, xuất bản.

- Vận tải viễn dương, hàng không, đường sắt, xây dựng cảng biển, sân bay, đường sắt và đường quốc lộ.

- Sản xuất lưu thông thuốc chữa bệnh, các chất độc, hại, chất nổ.

- Kinh doanh bất động sản, tài chính, ngân hàng.

- Có liên quan đến quốc phòng, an ninh,

- Chuyên doanh xuất nhập khẩu, du lịch quốc tế.

 

b) Dự án về công nghiệp nặng có mức vốn đầu tư trên 30 triệu USD.

 

c) Dự án các ngành khác có mức vốn đầu tư trên 20 triệu USD.

 

d) Các dự án có diện tích chiếm đất lớn, có ảnh hưởng đến môi trường.

 

2. Việc phê duyệt các dự án do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định được phân thành hai loại:

 

a) Những dự án cần thông qua Hội đồng thẩm định Nhà nước để thẩm tra và trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định (dưới đây gọi là dự án nhóm A) gồm:

- Những dự án quy định tại mục a, điểm 1 của Điều này có quy mô đầu tư từ 20 triệu USD trở lên.

- Những dự án quy định tại mục b, điểm 1 của Điều này có quy mô từ 40 triệu USD trở lên.

- Những dự án quy định tại mục c, điểm 1 của Điều này có quy mô từ 30 triệu USD trở lên.

- Những dự án quy định tại mục d.

 

b) Đối với những dự án còn lại (dưới đây gọi là dự án nhóm B), UBNN về HTĐT và Chủ tịch Hội đồng thẩm định Nhà nước phối hợp với các Bộ có liên quan xem xét và thẩm định trên cơ sở kiến nghị của Bộ, địa phương và trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định.

 

3. Đối với các dự án ngoài danh mục quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (dưới dây gọi là dự án nhóm C). UBNN về HTĐT trao đổi ý kiến với các Bộ có liên quan, xem xét và quyết định việc cấp hoặc không cấp giấy phép.

 

(Hết phần Bài dịch 52 – Còn tiếp)

2 July 2013 – Nguyễn Văn Công

 

 

 

Regulations On Evaluations Of Projects With Foreign Owned Capital

 

(Issued with Decision No. 366-HDBT of the Council of Ministers dated 7 November 1991)

 

CHAPTER I

GENERAL PROVISIONS

Article 1. This regime for assessment of projects with foreign capital investment shall apply to the assessment investment projects in the forms: contractual business cooperation, joint venture enterprise or cooperation (hereafter referred to as joint venture enterprise), and enterprise with one hundred (100) per cent foreign owned capital.

 

Điều 2. Assessment of a project shall include consideration of the following main matters:

 

1. The legal status and financial capacity of the foreign and Vietnamese investors.

 

2. The compatibility of the project with social and economic objectives.

 

3. The viabilityof a production plan and suitability of the proposed technology and technical know how.

4. The compatabilty of the proposed markes with the State policy o the sale of products.

 

5. Tax rates and duration of any tax exemptions or reductions. Land, water or sea surface rents.

 

6. The effectiveness of the economic and social aspects of the project; the benefits to be gained by Vienamese party and the State of VN.

 

7. The capability of existing infrastructure to meet the needs of the project.

 

 

8. The location of the, water or sea surface to be used for the project; the timing of and steps to be taken in construction.

 

 

9. The use and protection of resources and protection of the environment and ecology.

 

Detailed matters to be considered may be specified for each type or nature of project.

 

 

Article 3. The Ministries and the people’s committees of provinces and cities shall examine and make specific recommendations on the following principal matters:

 

1. The compatibility of the objectives of the project with the development policy of the relevant branch and locality; the need for utilization of foreign investment.

 

2. The legal status, financial capacity and current business production of the foreign and Vietnamese economic organizations concerned.

 

3. The capacity of the locality to satisfy the needs of project for labour, materials, electricity, water and transport.

 

4. Valuation of the assets to be contributed by the Vietnamese party to the capital of the joint venture enterprise.

5. The compatibility of the location of the project with planning schemes prepared by the branch. Any petition in relation to the rental rates for land, water or sea surface.

 

CHAPTER II

LEVELS OF AUTHORITY FOR EVALUATION OF PROJECTS

 

Article 4. The levels of authority for evaluation of projects with foreign capital investment are as follows

1. Projects that require approval from the Chairman of the Council of Ministers:

 

a) Projects in the following economic and technical areas regardless of the amount of capital invested;

- Exploration or processing of precious or rare mineral resources;

- Telecommunications, broadcasting, television, and publishing.

- Marine, aviation, and railway transport and construction of sea ports, airports, railways, and national highways;

- Production of pharmaceutical products, poisons, and explosives;

- Real estate business, finance, and banking;

 

- Projects related to defence and security; and

- Export and import business and international tourism.

 

b) Projects in heavy industry with capital investment of over thirty (30) million US dollars.

 

c) Projects in other areas with capital investment of over twenty (20) million US dollars.

 

d) Projects which require a large area of land and will significantly affected environment.

 

2. For the purposes of evaluation procedures, the projects which require approval from the Chairman of the Council of Ministers shall be in two categories:

a) The projects (hereinafter referred to as Group A projects) which the Chairman of the Council of Ministers shall refer for review by the National Council for Project Evaluation:

- The projects referred to in clause 1 (a) of this Article with a capital investment of least twenty (20) million US dollars or more:

- The projects referred to in clause 1 (b) of this Article with capital of forty (40) million US dollars or more.

- The projects referred to in clause 1 (c) of this Article with capital of thirty (30) million US dollars or more; and

- The projects referred to in clause 1 (d) of this Article.

b) The remaining projects (hereinafter referred to as Group B Projects) which the SCCI and Chairman of the National Council for Project Evaluation shall consider, assess with the Ministries concerned on the basis of the submissions made by Ministries and local bodies and which shall then be submitted to the Chairman of the Council of Ministers for decision.

3. In respect of the projects which are not on the list of projects which require approval from the Chairman of the Council of Ministers (hereinafter referred to as Group C Projects), the SCCI shall consult with the Ministries concerned and decide whether to issue a licence.

 

(End of Translation 52 – To be continued)

 

 

Từ vựng: Vocablary 1. Vận tải viễn dương: Marine transport 2. Khai thác hoặc chế biến: Exploration or processing 3. Thẩm định dự án: Evaluation of projects 4. Mức độ phù hợp: The compatibility 5. Kiến nghị: Petition 6. Chất độc và chất nổ: Poisons and explosives 7. Có liên quan đến quốc phòng, an ninh: Projects related to defence and security 9. Đối với các dự án ngoài danh mục: In respect of the projects which are not on the list 10. Cấp giấy phép: To issue a licence.

 

Idiomatic American English

A Kick in the Pants

A: Why does he always jump down your throat?

B: I don’t know. I try to be fair and square but all I get is a kick in the pants. I feel like I’m knocking my head against the wall.

A: It serves you right because you allow him to walk all over you.

B: Don’t rub it in. I don’t like getting the short end of the stick.

Vocabulary:

1. jump down someone’s throat (v) criticize angrily, hastily

2. fair and square (adj or adv) honest; honestly

3. kick in the pants (teeth) (n) rejection, criticism

4. knock one’s head against the wall (v) waste time in futile effort to improve or change something

5. serve someone right (v) give due punishment

6. walk all over someone (v) take advantage of someone

7. rub something in (v) constantly refer to a mistake or fault

8. short end of the sic (n) unfair, unequal treatment

 

Proverb:

1. A fool and his money are soon parted.

 

2. A fool at forty is a fool indeed.

3. A fool’s tongue is long enough to cut his own throat.

4. A foul morn may turn a fair day.

5. A full purse makes the mouth speak.

6. A gentleman keeps his integrity even in poverty.

7. A good name is better than rich.

8. A good beginning is half the battle.

9. A good conscience is a soft pillow.

10. A good deed is never lost.

 

Đặc ngữ(thành ngữ) Anh Mỹ

Bác bỏ/Phê bình

A: Tại sao lúc nào anh ta cũng chỉ trích phê bình bạn thế?

B: Tôi cũng không biết nữa. Tôi muốn thành thật nhưng chỉ nhận đuợc sự chỉ trích. Tôi thấy mình làm chuyện vô ích.

A: Đáng đời bạn nhé vì tôi thấy bạn để anh ta lợi dụng bạn.

B: Thôi đừng nhắc tới nữa. Tôi không muốn chuyện không công bằng.

Từ vựng:

1. Phê bình a một cách tức giận, vội vã

 

3. thành thật

3. bác bỏ, phê bình

 

4. phí thời gian làm chuyện vô ích để cải tiến hoặc thay đổi việc gì

 

5. đáng đời; nhận phạt đích đáng

6. lợi dụng ai

 

7. liên tục nhắc đến lỗi lầm của ai

 

8. không công bằng (nắm đằng lưỡi)

 

 

Tục ngữ:

1. Đồng tiền thằng ngốc nằm trong túi không lâu.

2. Bạc đầu còn dại.

3. Ếch chết tại miệng.

 

4. Sông có khúc, người có lúc.

5. Có tiền mua tiên cũng được.

6. Giấy rách phải giữ lấy lề.

 

7. Tốt danh hơn lành áo.

8. Đầu xuôi đuôi lọt.

9. Ăn cơm với cáy thì ngáy o, o.

10. Gái có công thì chồng chẳng phụ.

 

Bài dịch 52 – (tiếp theo Phần mệnh đề)

Mệnh đề Phó từ - Nguyễn Văn Công-

2 July 2013 -

 

IV. ADVERB CLAUSES (MỆNH ĐỀ PHÓ TỪ)

An adverb clause does the work of an adverb. It may therefore modify some verb, adjective, or adverb in the principal clause. (Một mệnh đề phó từ làm công việc của một phó từ. Vì thế nó có thể bổ nghĩa cho động từ, tính từ hoặc phó từ trong mệnh đề chính.

- They came after night had fallen. (Modifying a verb) Họ tới sau khi trời đã tối.

- You are taller than I thought. (Modifying an Adjective) Anh cao hơn là tôi tưởng.

- He ran so quickly that he soon overtook me. (Modifying an adverb) Hắn chạy nhanh đến nỗi chẳng bao lâu đã đuổi kịp tôi.

Adverb clauses are of many kinds, and may be classified as: (Mệnh đề phó từ có nhiều loại và có thể phân loại ra là:

1. ADVERB CLAUSES OF TIME which indicate when an action was done. These clauses can be introduced by a number of conjunctions, e.g. whew, while, after, before, until (=till), since, as, as soon as. (Mệnh đề phó từ chỉ Thời gian bỉểu thị một hành động xảy ra khi nào. Những mệnh đề này có thể mở đầu bằng một số các liên từ như: when, while, after, before, until (=till) since, as, as soon as.)

- When it rains, I usually go to the office by bus. Khi trời mưa, tôi thường đi tới văn phòng bằng xe buýt.

- I learned a lot of French while I was in Paris. Tôi đã học được nhiều tiếng Pháp khi tôi ở Paris.

- A man should take a little rest after he had worked hard. Người ta nên nghỉ ngơi một chút sau khi làm việc nhiều.

- She learned English before she came to England. Cô ấy đã học tíếng Anh trước khi tới Anh quốc.

- People do not know the value of health until (=till) they lose it. Đến khi người ta bị mất sức khoẻ rồi mới biết giá trị của nó.

- I have not been well since I returned from France. Tôi không được khỏe từ khi ở Pháp về.

- The thief was arrested as he was leaving the bank. Tên trộm đã bị bắt lúc hắn rời khỏi ngân hàng.

As soon as he heard the news he wrote to me. Ngay khi nghe tin đó, anh ấy đã viết thư cho tôi.

 

In adverb clauses of time, a Present Tense in the principal clause takes a Present Tense in the time clause; a Past Tense in the principal clause takes a Past Tense in the time clause. (Trong mệnh đề phó từ chỉ thời gian khi mệnh đề chính ở thì Hiện tại thi mệnh đề chỉ thời gian cũng ở thì Hiện tại; còn khi mệnh đề chính ở thì Quá khứ thì mệnh đề chỉ thời gian cũng ở thì Quá khứ.)

- The children are afraid when it thunders. Lũ trẻ sợ hãi khi trời nổi sấm.

- My elder brother joined the army when he was seventeen. Anh tôi vào quân đội khi 17 tuổi.

- Make hay while the sun shines. Hãy phơi cỏ trong khi trời nắng.

- The thief stole into the room while they were sleeping. Tên trộm lẻn vào phòng trong khi họ đang ngủ.

- Tell him the news as soon as you see him. Cho anh ấy biết tin đó ngay khi anh gặp anh ấy

- The soldiers rushed forward as soon as the signal for attack was given. Các binh sĩ đã xông lên ngay khi có hiệu lệnh tấn công.

 

But a Future Tense in the principal clause generally takes a Present Tense in the Time clause. (Nhưng mệnh đề chính ở Thì Tương lai thì mệnh đề chỉ thời gian thường ở Thì Hiện tại)

- I shall write to you when I leave England. Tôi sẽ viết thư cho anh khi tôi rời Anh quốc.

- These brave men will fight until they die. Những người dũng cảm này sẽ chiến đấu đến chết.

- This coat will lose its color after it is washed. Áo choàng này sẽ phai màu sau khi giặt.

- Mr. Brown is going to visit you as soon as he has time. Ông Brown sẽ đến thăm anh ngay khi ông ấy có thời giờ

 

2. ADVERB CLAUSES OF PLACE which indicate where an action was done. These clauses are introduced by where or wherever. (Mệnh đề Phó từ chỉ Nơi chốn biểu thị một hành động xảy ra ở đâu. Những mệnh đề này mở đầu bằng where và wherever.)

- I am standing where I can watch the athletes. Tôi đang đứng ở nơi có thể nhìn được các vận động viên.

- She sat where there wasn’t any sun. Cô ấy ngồi ở nơi không có nắng.

- I will follow you where you go. Tôi sẽ theo anh đi bất cứ nơi nào anh đi.

- He slept wherever he could find a hotel. Ông ấy ngủ ở bất cứ nơi nào kiếm được khách sạn.

 

The construction in place clauses is similar to that in time clauses. A Future Tense in the principal is generally accompanied by a Present Tense in the place clause. (Cấu trúc câu ở mệnh đè chỉ nơi chốn tương tự như ở mệnh đề chỉ thời gian. Thì Tương lai ở mệnh đề chính thường thường đi cùng với Thì Hiện tại ở mệnh đề chỉ nơi chốn.)

- I will go where you tell me. Tôi sẽ tới nơi nào anh bảo tôi đi.

 

But other sequences of tense are possible according to the meaning. (Nhưng cũng có thể có những sự phối hợp khác về thì tùy theo nghĩa.)

- I shall meet him where I first met you. Tôi sẽ gặp ông ấy ở nơi tôi đã gặp anh lần đầu.

 

When a place clause is introduced by wherever, may is sometimes used (Đôi lúc người ta dùng may khi mệnh đề chỉ nơi chốn mở đầu bằng wherever.)

- Wherever you may go, she will not forget you. Dù anh đi đâu, cô ấy cũng không quên anh.

 

3. ADVERB CLAUSES OF CAUSE (or REASON) which indicate why an action was done. These clauses are generally introduced by because, since, as, for, seeing that, now that. (Mệnh đề Phó từ chỉ Nguyên nhân biểu thị vì sao một hành động. Những mệnh đề này thường mở đầu bằng because since, as, for, seeing that,now that.)

- He sold the car because it was too small. Ông ấy đã bán chiếc xe hơi vì nó quá nhỏ.

- Since there is no more to be said, the meeting ends. Vì không còn gì để nói nữa nên cuộc họp bế mạc.

- As the houses were built of woods, they were all burnt down. Vì những căn nhà đó làm bằng gỗ nên bị thiêu hủy tất cả.

- We must finish now, for it’s nearly bedtime. Chúng ta phải chấm dứt lúc này vì đã gần tới giờ đi ngủ.

- Seeing that the weather is warmer, you can go out. Vì thời tiết đã ấm hơn, anh ra ngoài được đấy.

- Now that you’re grown up, you must stop this childish behavior. Vì con đã lớn, đừng cư xử trẻ con nữa.

 

Clauses beginning with as, since, seeing that, usually precede the principal clause, those beginning with because usually come after it. (Mệnh đề bắt đầu bằng as, since, seeing that thường đi trước mệnh đề chính, còn mệnh đề bắt đầu bằng because thì thường ở sau mệnh đề chính.)

- As he was tired, he went to bed early. Vì mệt, anh ấy đi ngủ sớm.

- He went to bed early because he was tired. Anh ấy đi ngủ sớm vì mệt.

 

Clauses beginning with for cannot precede the principal clause. (Mệnh đề bắt đầu bằng for không thể đứng trước mệnh đề chính.)

- He will surely succeed, for he works hard. Anh ấy chắc chắn sẽ thành công vì anh ấy làm việc chăm.

- I asked him to come here, for I had something to tell him. Tôi mời ông ấy tới đây vì tôi có việc phải nói với ông ấy.

 

4. ADVERB CLAUSES OF MANNER which indicate how an action is done. These clauses are usually introduced by the conjunctions as, how, as if, as though. (Mệnh đề phó từ chỉ Thể cách biểu thị một hành động xảy ra như thế nào. Những mệnh đề này thường mở đầu bằng liên từ as,how, as if, as though.)

- I did the work as he instructed me. Tôi làm việc đó như lời ông ấy chỉ dẫn tôi.

- You may finish it how you like. Anh có thể hoàn thành việc đó theo ý anh.

- The child talks as if (= as though) he were a man. Đứa trẻ nói chuyện như thể là người lớn.

- He raised his hand as though (= as if) he wanted to strike me. Anh ta giơ tay lên như thể muốn đánh tôi.

- She talks about Rome as if (= as though) she had been there herself. Bà ta nói về thành La Mã như thể chính bà ta đã ở đó.

- He described Paris as though (= as if) he had visited it. Ông ấy mô tả Paris như thể là ông ấy đã thăm viếng rồi.

 

Note that clauses introduced by as if, as though are used with a past subjunctive. (Lưu ý là mệnh đề mở đầu bằng as if, as though được dùng với một thì bàng thái quá khứ.)

- He looks as if he were weary. Trông anh ấy như thể mệt mỏi.

- She knows about England as though she had spent many years there. Bà ấy hiểu nước Anh như thể đã ở đó nhiều năm.

 

5. ADVERB CLAUSES OF PURPOSE which are usually introduced by that, so that, in order that, in case, and the somewhat archaic lest (modern: for fear that; so that … not). (Mệnh đề Phó từ chỉ Mục đích thường mở đầu bằng that, so that, in order that, in case và từ lest hơi cổ, trong tiếng Anh hiện đại là for fear that, so that … not).

- I open the window that I may see the moon. Tôi mở cửa sổ để nhìn trăng.

- The announcement was put up on the notice-board so that everyone might see it. Thông báo được dán lên bảng yết thị để mọi người xem.

- He speaks slowly in order that you may understand him. Ông ấy nói thong thả để các anh hiểu ông ấy.

- She sent you this note in case you should forget about the matter. Bà ấy gửi thư này sợ rằng ông quên việc đó.

- We hold him up lest he should fall (for fear that he should fall/so that he should not fall.) Ông ta đỡ anh ấy e rằng anh ấy ngã (sợ rằng anh ấy ngã/để anh ấy không ngã.)

 

When affirmative clauses of purpose are introduced by that, so that, in order that, may is generally used for present and future time and might for past time; in negative clauses, (including those introduced by lest and in case) should is used for present and past time. (Khi mệnh đề xác định chỉ mục đích mở đầu bằng that, so that, in oder that thì nói chung là dùng may cho hiện tại và tương lai và might cho quá khứ; về mệnh đề phủ định kể cả mệnh đề mở đầu bằng lest in case thì dùng should cho hiện tại và quá khứ.)

- He studies hard in order that he may win the scholarship. Anh ấy học chăm để đạt học bổng.

- He studied hard in order that me might win the scholarship. Anh ấy đã học chăm để đạt học bổng.

- We move by night so that the enemy should not see us. Chúng tôi di chuyển về đêm để quân địch không thấy chúng tôi.

- He doesn’t dare to leave the house lest (in case) he should be recognized. Nó không dám rời khỏi nhà sợ rằng người ta nhận ra nó.

- He didn’t dare to leave the house lest (in case) he should be recognized. Nó đã không dám rời khỏ nhà sợ rằng người ta nhận ra nó.

 

Note on that, so that. Lưu ý về that, so that.

- Simple that clauses are not much used to express purpose in modern English. (Người ta ít dùng mệnh đề that đơn thuần để diễn đạt mục đích trong Anh ngữ hiện đại.)

- In colloquial style, can and could are also used after so that. (Trong lối thường đàm, can could cũng đuợc dùng sau so that.)

- Mr. Brown often works late so that he can earn more money. Ông Brown thường làm trễ để kiếm thêm tiền.

- She had saved her money so that she could go to France. Cô ấy đã dành dụm tiền để đi Pháp.

 

6. ADVERB CLAUSES OF CONCESSION which are generally introduced by though, although, even though. (Mệnh đề Phó từ chỉ Sự Nhân nhượng thường thường mở đầu bằng though, even though, hay even though.)

- Though he is poor, he is honest. Mặc dù anh ấy nghèo anh ấy vẫn lương thiện.

- Although the troops had marched all day, they fought bravely all night. Mặc dù các binh sĩ đã hành quân suốt ngày, họ vẫn chiến đấu dũng cảm suốt đêm.

- Mary walked to the theatre even though the rain was heavy. Mary đã đi bộ tới rạp hát dù mưa lớn.

(Còn tiếp phần 2)